CÁC GIAI THOẠI VỀ
CÁC NHÂN VẬT NAM Kỳ LỤC TỈNH
Phần 2: TRẦN PHONG SẮC (1878-????)
dịch giả các truyện tàu
Hứa
Hoành
Vào đầu thế kỷ 20, ở Nam Kỳ có 3
dịch giả truyện Tàu cùng tên Sắt: người
thứ nhứt là Tân Châu Nguyễn Chánh Sắt, người
thứ hai là Nguyễn Kỳ Sắt, và người thứ
ba là Tân An (1) Trần Phong Sắc. Cùng với Nguyễn
Chánh sắt, Nguyễn An Khuông, Mộng Huê Lầu (Lê
Hoằng Hựu... Trần Phong Sắc là một trong
những dịch giả Nho học uyên bác, thạo chữ
Quốc Ngữ, dịch nhiều bộ truyện Tàu
nhứt, gây ảnh hưởng sâu rộng đến
cả thế hệ nam nữ thanh niên, trung niên và ngay
lớp phụ lăo nữa. Trần Phong Sắc sống
cuộc đời trầm lặng, âm thầm dịch sách,
sáng tác . Sự đóng góp của ông vào gia tài văn hoá
nước nhà buổi sơ khai thật đồ sộ,
nhưng các nhà làm văn học bỏ quên ông, không dành cho ông
một chỗ đứng khiêm nhượng nào trong Văn
học sử miền Nam. Rất tiếc không sách báo nào
đề cập đến thân thế, sự nghiệp của
ông nên muốn viết về tiểu sử của Trần
Phong Sắc rất khó khăn. Chúng tôi phải sưu
tầm, lượm lặt rải rác, phỏng vấn nhiều
vị bô lăo từng sống ở Tân An, Mỹ Tho và
nhứt là tham khảo cuốn Địa phương chí "Tân
An Ngày Xưa" của Đào Văn Hội để
viết lại bài nầy.
Tuy là một dịch giả có biệt tài, dịch hàng
40 quyển truyện Tàu, sáng tác hàng mấy chục bài ca
cổ điển, nhưng ông không sống được
bằng nghề ấy. Nghề chánh của ông là thầy
giáo dạy môn Luân Lư tại trường tiểu học Tân
An trong thời gian từ năm 1916 đến năm 1930.
Trần Phong Sắc là người hữu tài vô mạng.
B́nh sanh, bao nhiêu công lao trí lực để dành làm giàu cho nhà
xuất bản, đời sống vật chất của
ông suốt đời cũng không dư giả chi,
đến chết lại lâm cảnh nghèo. Dường
như ông lấy chuyện dịch truyện, sáng tác bài ca
như một sở thích làm vui, không mấy chú trọng
đến tiền bạc. Nghe nói rằng giới trí
thức đương thời ở Tân An hễ nhắc
tới ông th́ họ mỉm cười, nụ cười
khinh bạc, mỉa mai v́ họ cho rằng Trần Phong
Sắc là một người gàn, có lẽ họ chưa
hiểu ông. Dù dạy học, dịch sách viết bài ca, lănh
vực nào Trần Phong Sắc cũng làm đầy
đủ, nhiệt t́nh và xuất sắc, để
lại cho hậu thế nhiều quyển truyện
xưa, bài ca đến nay, lớp người hậu
bối vẫn c̣n nhắc nhở.
Trần Phong Sắc là người làng Huê Mỹ
Thạnh, phủ Tân An, sau là tỉnh Tân An, nhà ở ngă
tư gần Cầu Quây trong chợ Tân An. Kể về
tướng mạo, một người từng học
với ông là Đào Văn Hội (năm 1918) đă kể
về ông như sau:
- Ông Trần Phong Sắc tướng tá
xấu, mang đầu tóc to tướng, nước da ngâm
ngâm đen, mắt lé nặng. Lúc đó (1918) ông dạy môn
Luân Lư ở các lớp tiểu học (Tân An). Khi đi
dạy, ông bịt chiếc khăn nhiễu đă phai màu,
mặc cái áo xuyến dài cũ, mang đôi giày hàm ếch
xập xệ. Ông vẫn đi bộ luôn từ xóm Ngă
Tư tới trường, trong túi áo trắng bên trong kè kè
những sách .
Chính quyền địa phương bổ nhiệm ông
dạy môn Luân Lư từ lớp Năm đến lớp Nh́,
lương tháng mười mấy đồng bạc.
Học sinh thường gọi ông là "thầy
ma-ranh" (morale) hoặc "ông kẹ lửa", v́ trong
lớp đứa nào trững giỡn thái qúa, ông
"tặng" cho cái cú nháng lửa và cho điểm 0 .
Trần Phong Sắc sống cuộc đời trầm
lặng mấy mươi năm ở tỉnh lẻ, dù có
tài nhưng ông không khoe khoang, ít giao du, thù tạc bạn bè
như các đồng nghiệp khác lúc bấy giờ. Ông
chỉ chơi thân với một vài người, trong
đó có ông huyện Ngô Văn Chiêu, người sáng lập
ra đạo Cao Đài sau nầy, ông Cao Văn Lỏi, ông
Một Kim...Tính t́nh Trần Phong Sắc rất hiền lành.
Ông dùng hết th́ giờ ngoài việc dạy học
để dịch truyện Tàu, viết lời ca (hầu
hết bằng chữ Hán) trong các bài ca cổ điển.
Khi đi dạy học, trong giờ ra chơi của
học sinh, Trần Phong Sắc thường ngồi
lại lớp, lấy sách chữ Hán ra đọc, trong khi
những thầy giáo khác tụ tập chuyện tṛ cười
đùa . Có lẽ vào thời đó môn Luân Lư bị coi
thường mà ông Trần Phong Sắc lại quá lôi thôi,
hiền hậu nên các bạn đồng nghiệp ít kính
nể, và cũng không dạy học tṛ kính trọng ông
..Lớp ông dạy, học tṛ thường nói chuyện
ồn ào như cái chợ, không coi ông ra ǵ cả. Ngôi nhà ông
ở là một kiểu nhà xưa ba gian, lợp ngói âm
dương, nền đất vách ván, thấp..
Trước nhà có một hàng rào bằng cây, quét vôi trắng
toát và viết đầy những chữ Nho. Cửa ngơ nhà
là hai trụ gạch, phía trên có một tảng đá xanh to
gác ngang dày một tấc, rộng 40cm và ngang 1,2m,
đứng xa xa trông như một cái am. Ngoài ra ông cùng
một số bạn đồng tâm như Bộ Thọ
(Lê Kiển Thọ), Một Kim (Đoàn Văn Kim), thầy
giáo Nguyễn Văn Ngộ, Ngô Văn Chiêu thường
lập đàn cầu cơ để chữa bịnh cho bá
tánh không lấy tiền. Trong nhóm nầy riêng Trần Phong
Sắc là người ăn chay trường. người
ta kể lại trong một lần cầu cơ:"Ông
giáo Vân ngồi đồng dương, ông Bộ Thọ
ngồi đồng âm, Trần Phong Sắc làm phép đàn,
ông Đoàn Văn Kim ghi chép và Ngô Văn Chiêu làm độc
giả. Cơ lên mạnh cho biềt:
"Ngũ chơn bữu khí lâm triều
thế
Giá hạc đằng vân
xiển tự nguyên..."
Lúc ấy cơ Đức Cao Đài tiên ông giáng cơ,
cơ gơ mạnh và bảo ông Trần Phong Sắc sửa
lại hai câu thơ ấy. Vốn là một nhà Nho sành sơi,
uyên bác về Hán Văn, nhưng v́ không biết Cao Đài
tiên ông là ai, nên Trần Phong Sắc mới trả lời
một cách suồng să rằng:
- Bài thỉnh nầy ra 100 năm rồi, từ bên Trung
Quốc qua đây không ai dám cho là sai, nay ngài bảo sửa,
nói vậy là thiệt trật hay sao ?
Tiên ông quơ cơ đập vào đầu ông Trần
Phong Sắc v́ vô lễ. Ông lẹ làng sụt xuống né
khỏi. Kế Đức Cao Đài tiên ông kêu gọi Ngô
Văn Chiêu bảo sửa. Ông Chiêu sửa lại như sau:
"Bửu chơn ngũ khí lâm triều
thế.."
Từ đó về sau ông Trần Phong Sắc không làm
phép đàn nữa.
Năm 1920 ông huyện Ngô Văn Chiêu đổi đi trấn
nhậm tại Hà Tiên. Cả Toà hành chánh tỉnh (tham
biện cùng nhân viên văn pḥng) có làm lễ tiễn
đưa. Ông Trần Phong Sắc có làm bài thơ thù
tạc:
"Mừng nay quan Huyện đổi Hà Tiên
Có đức trời cho
đặng có quyền
Trăm năm Vũng Gù (tên cũ của Tân An) c̣n
tiếng mến
Một đường sau
trước nổi danh hiền.
Ḥn Nghệ cầm báu
đưa theo gió,
Đảnh Hạc hoa
tươi rắm tới triền.
Âm chất sẽ ngồi xe
ngựa mă
Trùng phùng đồng
ước hội Đào Viên!"
Nhắc lại cuộc đời dạy học
của Trần Phong Sắc, ông Đào Văn Hội kể
lại:"Môn Luân Lư của ông Trần Phong Sắc
thường dạy vào buổi chiều, tùy theo lớp mà
dạy từ 4 giờ tới 4 giờ rưỡi hay 5
giờ. Ông giảng dạy bổn phận làm con đối
với cha mẹ, học tṛ đối với thầy, nhân
dân đối với chánh phủ, anh chị em, bè bạn
cư xử với nhau ... Rồi ông lên bảng đen viết
1 câu lối 9, 10 chữ Hán, và viết luôn câu giải
nghĩa. Chữ ông viết rất đẹp, sắc
sảo như dao cắt. Ông bắt chúng tôi chép vào tập
vở tŕnh ông chấm điểm. Nhưng chữ Nho
ngoằn ngoèo khó viết đối với những bàn tay
non nớt và chúng tôi viết chẳng khác nào vẽ bùa!
Thế mà được ông khuyên 9 đến 10
điểm ngon lành!
Gần 40 tuổi, Trần Phong Sắc tái hôn với
một cô thôn nữ. Có người cắc cớ hỏi
ông tại sao không kết hôn với một goá phụ
tuổi từ 30 đến 40, có phải là xứng đào
xứng kép chăng. Quư độc giả có thể đoán
được ông trả lời thế nào không?
Ông bảo rằng:"Thà rằng cưới con gái
đồng trinh, c̣n đàn bà goá chồng, phải
để cho người ta thủ tiết thờ
chồng mới phải đaọ thành hiền!"
Vẫn theo lời ông Đào Văn Hội:"Tôi không
biết thuở mẫu thân ông sanh tiền, ông thờ
mẹ hiếu thảo thế nào mà sau khi mẹ ông quá văng,
ông cho tạc tượng gỗ một người đàn
bà, trên đầu gắn tóc giả, mặc y phục
đàng hoàng để thờ trên cái gác nhà ông. Sớm mai và
chiều hai buổi, ông dọn cơm nước nhang
đèn trước tượng, cúng lạy kính cẩn.
Sự tử như sanh" (Cung phụng người
chết cũng như người sống).
MỘT DỊCH
GIẢ CÓ TÀI
Truyện Tàu được dịch ra lần
đầu tiên ở nước ta từ năm 1904, đó
là bộ "Tam Quốc Chí", được đăng
trên tờ báo "Nông Cổ Mín Đàm". Từ đó,
nhiều người có kiến thức Hán văn và chữ
Quốc ngữ liên tục dịch cho đến năm
1932. Trong số hơn 30 dịch giả (xem thêm bài
Nguyễn Chánh Sắt, đăng trên báo "Đời
Sống" ở Houston) th́ Trần Phong Sắc là một
người dịch nhiều bộ nhứt (gần 20
bộ), gây ảnh hưởng lớn lao cho cả dân chúng
Nam Kỳ vào đầu thế kỷ nầy. Ảnh
hưởng truyện Tàu đă góp phần h́nh thành một
nhơn sinh quan đặc biệt của người dân
miền Nam mà nét luân lư nổi bật qua các câu châm ngôn
"Trọng nghĩa khinh tài", anh em bè bạn ăn
ở với nhau có thủy chung, trước sau không thay
đổi. Trong cuộc sống, hễ gặp bất b́nh
th́ ra tay can thiệp, cứu giúp: "Kiến nghĩa
bất vi vô dơng giả" (thấy điều nghĩa
không ra tay hành động không phải kẻ anh hùng),
hoặc "Hoạn nạn tương cứu, sanh tử
bất ly..." (có nghĩa là sự giúp đở lẫn
nhau khi lâm hoạn nạn, sống chết có nhau khi đă
thề làm bạn...) Trong khi ngoài Bắc, Nguyễn
Đỗ Mục nổi danh nhờ dịch các bộ
tiểu thuyết diễm t́nh Trung Hoa như:
. Dư Chi Phụ (Chồng tôi)
. Dư Chi Thê (Vợ tôi)
. Song Phụng Kỳ Duyên ...
th́ ở Nam Kỳ, nhà Nho và nhà giáo Trần Phong Sắc
cũng nổi tiếng với hàng mấy chục quyển
truyện Tàu. Các truyện Trần Phong Sắc đă
dịch như:
. Phong Thần
. Ngũ Hổ B́nh Tây
. Tam Quốc Chí
. Ngũ Hổ B́nh Nam
. La Thông Tảo Bắc
. Dương Văn Quảng
B́nh Nam
. Tiết Nhơn Quư Chinh
Đông
. Nhạc Phi Diễn Nghĩa
. Tiết Đinh San Chinh Tây
. Anh Hùng Náo Tam Môn Giai
. Phi Long Diễn Nghĩa
. Hậu Anh Hùng
. Tam Hạ Ham Đường
. Phong Kiếm Xuân Thu
. Tàn Đường
. Tây Hán
. Vạn Huê Lầu
. Đông Hán
. Quần Anh Kiệt
. Phấn Trang Lầu
. Tái Sanh Duyên
. Càn Long Hạ Giang Nam
. Chánh Đức Du Giang Nam
. Tam Hạp Minh Châu Bửu
Kiếm
. Tây Du Diễn Nghĩa
. Đông Du Bát Tiên
. Bắc Du Chơn Vơ
. Nam Du Huê Quang v.v...
Trong các bộ truyện Tàu kể trên, một bộ
gồm nhiều quyển, có khi một bộ nhiều
dịch giả chia nhau dịch. Nhiều bộ đồ
sộ, dịch lại rai hàng chục năm như bộ
"Đông Châu Liệt Quốc" gồm 15 quyển,
được các dịch giả dịch từ năm 1906
đến năm 1929, nghĩa là phải 23 năm mới
xong! Bộ "Đông Châu Liệt Quốc"
được các ông Nguyễn Chánh Sắt. Nguyễn An
Khương, Nguyễn Công Kiều, Trần Đ́nh
Nghị, Nguyễn Kỳ Sắt và Trần Phong Sắc
dịch . C̣n bộ "La Thông Tảo Bắc"
được Trần Phong Sắc dịch cùng vớơi
nữ dịch giả Phạm Thị Phượng. Tuy th́
giờ dành hết cho việc dịch truyện Tàu, nhưng
Trần Phong Sắc cũng đam mê sáng tác lời ca cho
những bản nhạc cổ điển. Những
truyện dịch của ông được in tại Sài
G̣n, Chợ Lớn do các nhà in Joseph Nguyễn Văn Viết,
Đinh Thái Sơn, Đặng Lễ Nghi..để phát hành
khắp Nam, Trung, Bắc và Miên, Lào nữa.
Văn phong dịch của Trần Phong Sắc rất
trôi chảy, thích hợp với mọi từng lớp và
mọi lứa tuổi. V́ lẽ đó từ người
nông dân đến người trí thức đều
hiểu được và say mê. Hồi c̣n nhỏ, tôi
cũng phải đọc truyện Tàu hàng ngày cho ông nội
tôi nghe để ...lấy tiền ăn bánh. Đọc măi
tôi cũng thấy say mê cốt chuyện hấp dẫn
đó. Trong các bản dịch, lẻ tẻ Trần Phong
Sắc chêm vào một bài thơ Đường bát cú hay
tứ tuyệt, chứng tỏ ông có tâm hồn thi sĩ và
nền Hán văn vững vàng. Những bài thơ ấy
được đặt ở đầu mỗi
chương để b́nh luận hay tóm lược câu
chuyện. Trong truyện "Phong Thần", ông kết
thúc bằng bài thơ:
"Trằn trọc đêm thanh mấy
khắc chầy,
"Phong thần diễn
dịch, giải niềm Tây.
"Sắc tài, phép tắc bày
ra đủ,
"Chép để khuyên răn
phỉ nguyện nầy."
C̣n trong bộ "Chánh Đức Du Giang Nam", ông có
làm mấy câu thơ:
"Trần Thiện can vua kính họ
Lương,
"Phong làm thừa
tướng giúp triều đường.
"Sắc bà Quốc Thái sai
t́m chúa,
"Chánh Đức về ngay
hưởng thái bường (thái b́nh)"
Trong truyện Phong Thần nói về thời hồng
hoang lịch sử Trung Hoa, nhiều chuyện huyễn
hoặc mà ngày nay ta cho là bịa đặt, mỗi khi
một vị tiên xuất trận đối địch,
thường ngâm một bài thơ rồi mới so tài
đấu phép. Qua ng̣i bút linh hoạt của Trần Phong
Sắc, nhiều đoạn diễn tả t́nh nghĩa
thầy tṛ một cách thân ái người nghiêm minh như
đoạn Thái Ất mượn tay đạo hữu
Văn Thù sửa trị tánh nết hung hăng của Na Tra
Linh Châu Tử. Không những tế nghị trong văn t́nh
cảm mà trong khi tả cảnh các tướng Phiên
đấu chiến, giọng văn của ông cũng
biến đổi:"Mạnh mẽ, gọn gàng,
đằng đằng sát khí như tiếng binh khí
chạm nhau chan chát..." Chúng tôi nhớ lại một
đoạn tả cảnh ấy như sau:
" ...kỳ phùng địch thủ, tướng
ngộ lương tài, một qua một lại, một
tới một lui, bốn mươi hiệp cầm
đồng..."
Đôi khi nhà Nho đạo mạo Trần Phong Sắc
cũng dùng lối văn hài hước, chọc
cười độc giả. Thí dụ hồi:"Lưu
Kim Đính dựng bảng chiêu phu tại núi Song Toả, có
Cao Quân Bảo đi ngang qua, đập bảng ấy
đi, khiến Lưu Kim Đính nổi giận. Tức th́
đôi nam nữ anh hùng, anh thư nhứt tề hỗn
chiến, sáu mươi hiệp thắng bại bất phân
đao lớn, giáo dài, trai mạnh, gái dạn ..."
NGƯỜI
TIỀN PHONG SÁNG TÁC NHIỀU BÀI CA CỔ ĐIỂN
Ở vùng Thủ Thừa, Vàm Cỏ, Tân An vào
đầu thế kỷ 20 nhạc cổ phát triển
mạnh. Những thầy đờn nổi danh ở vùng
nầy hồi thập niên 1930 như Hai Nghĩa,
Mười Tốt, Tư Trinh... Các ca sĩ, nhạc công
đó sở dĩ nổi danh là nhờ những ông như
Lê Văn Tiếng và Trần Phong Sắc, là những người
đặt lời cho các bài ca cổ điển như
Ngũ đối, Long đảng, Vạn giá...
Ông Tiếng c̣n gọi là Cử Thiện, quê ở
Thủ Thừa, cùng hợp soạn "Cầm Ca Tân
Điệu" được coi như một bộ
sưu tập khá đầy đủ các bản đàn cùng
lời ca Cải lương ở giai đoạn phôi thai.
Tuy không biết đàn, nhưng dựa vào các Âm
điệu (notes) cổ điển, Trần Phong Sắc
đặt nhiều bài ca mà nhiều danh ca cổ nhạc
Nam Kỳ thời đó rất ưa thích. Chẳng hạn
bạn "Lưu Thủy Hành Vân" có âm điệu
như vầy:
"Xự cống xê xang ḥ,
"(là) xự cống xê xang
ḥ,
"Xế xang ḥ (là) họ
xự xang
"Xế xang c̣n xang xê
cống...
Rồi Trần Phong Sắc dựa vào âm điệu
đó đặt lời "Ngoạn Hứng Hoa Viên"
bằng chữ Hán:
"Ngoạn hứng hoa viên, hề,
"T́nh nguyện hứng hoa
viên, hề,
"Nhứt nhựt thanh nhàn
thị tiện,
"Lung linh đào lan mai
trước..."
Tập "Cầm Ca Tân Điệu" do nhà in Joseph
Nguyễn Văn Viết Sài G̣n, in xong năm 1925, trong đó
Trần Phong Sắc đặt nhiều bài ca như:
. Lưu Thủy Hành Vân
. Dạ Cổ Hoài Lang
(tiền thân bản Vọng Cổ)
. Long Hổ Hội
. Ngũ Điểm
. Bài Tạ
. Khổng Minh Toạ Lầu
. Tây Thi
. Cổ Bản
. Lưu Thủy
. Phú Lục
. B́nh Bán
. Xuân T́nh
. Tứ Đại Cảnh
. Tứ Đại Oán
. Văn Thiên Tường
. Cửu Khúc Giang Nam...
Dân địa phương Tân An thường kể
lại một giai thoại về trận hoả hoạn
lớn năm 1916, trong đó nhà ông Trần Phong Sắc
nằm dưới ngọn gió lùa cháy tới, người
nhờ ông biết "vẽ bùa", nên ngọn lửa
trệch qua căn nhà khác. Chuyện ấy không biết
đúng hay không nhưng chúng tôi cũng xin thuật lại
để độc giả nghe chơi.
"Năm 1916, xóm Ngă Tư bị một trận
hoả hoạn lớn vào buổi chiều nắng gắt.
Thời bấy giờ phương tiện cứu hoả
thô sơ, không đủ sức dập tắt ngọn
lửa, nên bà Hoả thiêu rụi háng trăm căn nhà lá. Heo
nhốt trong chuồng cũng chết bộn, may không có tai
nạn về người . Xóm hoả hoạn ấy cách
nhà ông Trần Phong Sắc một cái rạch nhỏ mà
ngọn gió thổi về phía nhà ông nữa. Theo nhiều
người chứng kiến: Ông Trần Phong Sắc
đem một cái h́nh nhơn cao độ vài tấc tây
để trên phiến đá xanh trước cửa ngơ, tay
cầm lá cờ, ông đọc điều ǵ như lâm râm
khấn vái một chặp, đoạn phất cờ trên
tay h́nh nộm mấy lượt. Lạ thay, ngọn
lửa đương cháy mănh liệt, hướng về
nhà ông, sắp leo qua rạch tấn công mái nhà ông, rồi
bỗng quay lại, tạt qua hướng khác. Trận
hoả hoạn đó nhà ông thoát nạn".
Có những người để lại sự
nghiệp lớn cho đời nhưng ít được
người đời nhắc tới mà Trần Phong
Sắc là một trong những người ấy.
Chú thích:
(1) Chúng tôi quen gọi theo quê quán
của Trần Phong Sắc là Tân An để phân biệt
với cụ Nguyễn Chánh Sắt quê ở Tân châu, cũng
là bút hiệu. Bút hiệu của Trần Phong Sắc là
Đằng Huy.